Chăm sóc sau khi đẻ

SỐT SAU ĐẺ (1)

1046-06-28 14:53:00

 

Tuyến áp dụng.

 

       Tất cả các tuyến (theo phân tuyến kỹ thuật).

 

Người thực hiện.

 

       Bác sĩ chuyên khoa sản hoặc bác sĩ được bổ túc về sản khoa.

 

 

1. Định nghĩa.

       Sốt sau đẻ là sốt từ trên 24 giờ sau khi sinh với thân nhiệt từ 38oC trở lên. Đây là triệu chứng do nhiều nguyên nhân khác nhau với mức độ nặng nhẹ khác nhau.

2. Các nguyên nhân.

2.1. Bệnh nội ngoại khoa.

-          Nhiễm khuẩn vết mổ .

-          Viêm bàng quang.

-          Viêm bể thận cấp.

-          Sốt rét.

-          Viêm phổi, lao phổi.

 

-          Thương hàn, viêm gan

 

2.2. Nhiễm khuẩn hậu sản.

-          Nhiễm khuẩn âm hộ, âm đạo, tầng sinh môn.

-          Viêm nội mạc tử cung, viêm toàn bộ tử cung, viêm tử cung phần phụ, viêm phúc mạc tiểu khung, viêm phúc mạc toàn bộ, nhiễm khuẩn huyết.

2.3. Sốt sau đẻ do các bệnh về vú.

Cương vú, viêm vú, áp xe vú.

3. Các dấu hiệu và xử trí.

3.1. Nhiễm khuẩn vết mổ.

-          Dấu hiệu chính: vết mổ sưng, có dịch tiết là máu hay mủ, tấy đỏ quanh vết khâu.

-          Xử trí: cắt chỉ cách quãng, dẫn lưu cho thoát dịch, kháng sinh, rửa vết mổ bằng dung dịch sát khuẩn và thay băng tối thiểu ngày 2 lần.

3.2. Sốt sau đẻ do các bệnh về vú.

3.2.1. Cương vú:

-          Dấu hiệu chính: vú sưng đau cả hai bên, xuất hiện muộn 3 - 5 ngày sau đẻ.

 

-          Xử trí: 

 

+        Nếu người mẹ cho con bú, khuyến khích tăng số lần cho con bú.

+        Vắt sữa bằng tay hoặc bằng bơm hút.

+        Giảm đau tức: chườm lạnh, xoa sau lưng, làm ướt đầu vú cho con dễ bắt vú. Sau khi cho bú: chườm lạnh, băng nâng hai bầu vú không quá chặt.

+        Thuốc: paracetamol 500 mg x 2 - 4 viên/ngày.

+        Nếu người mẹ không cho bú: tránh kích thích đầu vú, chườm lạnh, băng chặt vú, paracetamol 500 mg x 2 - 4 viên/ngày; parlodel 2,5 mg x 2 viên trong 5 ngày (để cắt sữa).

3.2.2. Viêm vú

-          Dấu hiệu chính: vú cương, đau, đỏ, đầu vú thường nứt nẻ, thường bị một bên.

-          Xử trí:

 

+        Kháng sinh:    

 

+        Amoxicillin 500 mg uống 1 viên x 4 lần/ngày, 10 ngày hoặc

+        Erythromycin 250 mg uống 1viên x 4 lần/ngày, 10 ngày.

+        Khuyến khích người mẹ tiếp tục cho bú thường xuyên. Bôi parafin nếu có nứt đầu vú.

+        Băng nâng đỡ vú không quá chặt.

+        Chườm lạnh vú sau khi cho bú.

+        Paracetamol 500 mg (khi cần).

+        Lý liệu pháp.

3.3. Áp xe vú.

-          Dấu hiệu chính: vú căng to, sưng đỏ, có chỗ ấn mềm, chọc dò có mủ.

-          Xử trí:

+        Tuyến xã chuyển tuyến trên.

+        Dẫn lưu mủ và điều trị kháng sinh.

+        Nên gây mê (ketamin).

+        Rạch theo đường nan hoa (tránh gây thương tổn cho đường dẫn sữa).

+        Cho ngón tay đi găng vô khuẩn vào phá các vách ngăn trong ổ áp xe, nặn mủ.

+        Nhét gạc vào ổ áp xe để dẫn lưu mủ (rút sau 24 giờ và thay thế bằng 1 gạc chèn khác nhỏ hơn).

+        Điều trị kháng sinh (sau khi đã trích áp xe).

+        Cloxacillin 500 mg uống 1 viên x 4 lần/ngày, trong 10 ngày hoặc

+        Erythromycin 500 mg uống 1 viên x 4 lần/ngày, trong 10 ngày.

+        Tiếp tục cho bú: nếu bên vú áp xe còn chảy máu, mủ thì cho bú bên lành và vắt bỏ sữa ở vú bên đau. Sau 48 giờ lại cho bú cả hai bên.

+        Băng đỡ vú.

+        Chườm lạnh.

+        Paracetamol 500 mg x 2 - 4 viên/ngày.

4. Sốt do nhiễm khuẩn hậu sản.

4.1. Nhiễm khuẩn ở tấng sinh môn, âm hộ, âm đạo, cổ tử cung.

 

Triệu chứng

-          Vết rách hoặc chỗ khâu sưng tấy, đỏ, đau đôi khi có mủ

-          Tử cung co hồi tốt, sản dịch có thể hôi hoặc rất hôi.

-          Có thể sốt nhẹ 38oC - 38,5oC

 

Xử trí

-          Khám âm đạo loại trừ sót gạc.

-          Vệ sinh tại chỗ và kháng sinh.

-          Nếu sau khi dùng kháng sinh, vết khâu vẫn sưng, đỏ, rỉ nước vàng thì cắt chỉ ngắt quãng.

-          Nếu toàn bộ vết khâu nhiễm khuẩn, bung hết chỉ thì phải rửa vết thương cho đến khi hoàn toàn không có mủ, nước vàng, mô dưới da hồi phục trở lại mới được khâu lại tầng sinh môn (xã phải chuyến tuyến).

4.2. Viêm nội mạc tử cung.

Thường do kiểm soát tử cung, nhiễm khuẩn ối, chuyển dạ kéo dài hoặc đôi khi có thể do sót rau. Viêm nội mạc tử cung không điều trị sẽ dẫn đến các biến chứng trầm trọng hơn như viêm tử cung toàn bộ, viêm phúc mạc, nhiễm khuẩn huyết…

Triệu chứng.

-          Mệt mỏi, lo lắng.

-          Người mẹ sốt 38oC - 39oC từ 2 ngày sau khi đẻ.

-          Tử cung co hồi chậm, mềm, ấn đau.

-          Sản dịch hôi, đôi khi có lẫn mủ.

 

Điều trị.

 

Tuyến xã.

 

-          Hạ sốt bằng đắp khăn ấm và cho uống nước.

-          Cho thuốc co hồi tử cung (oxytocin 5 đv x 1 - 2 ống/ngày, tiêm bắp).

-          Dùng kháng sinh thích hợp có thể tiêm hoặc uống trong 7 ngày.

-          Nếu sau 24 giờ không hạ sốt thì phải chuyển tuyến.

 

Tuyến huyện.

-          Tại huyện xử trí như ở xã và điều chỉnh kháng sinh tùy tình trạng bệnh

-          Nếu bế sản dịch: nong cổ tử cung cho dịch thoát ra ngoài.

-          Nếu sót rau: hút hoặc nạo lấy rau sau khi cho kháng sinh.

-          Sau điều trị các triệu chứng giảm, cho kháng sinh tiếp đến 5 - 7 ngày rồi và xuất viện.

-          Nếu các triệu chứng không giảm chuyển tuyến tỉnh.

4.3. Viêm tử cung toàn bộ.

 

Triệu chứng.

-          Đây là hình thái lâm sàng tiến triển nặng lên của viêm nội mạc tử cung, sản dịch rất hôi thối, màu nâu đen.

-          Tử cung to, mềm, ấn rất đau, di động tử cung đau, đôi khi ấn gây tiếng kêu lạo xạo như có hơi, đặc biệt có thể có ra huyết vào khoảng ngày thứ 8 - 10.

Xử trí.

Điều trị cần sử dụng kháng sinh liều cao và phối hợp nhiều loại.


(còn nữa)
Tin tức khác