Nam học

CÁC RỐI LOẠN BIỆT HÓA GIỚI TÍNH SINH DỤC (2)

9067-04-20 14:52:59

3.2.2. Các rối loạn biệt hóa giới tính khác:

-          Hội chứng không có tinh hoàn bẩm sinh (người bệnh có bộ nhiễm sắc thể 46,XY nhưng khuyết tật ở tinh hoàn).

-          Hội chứng tồn tại ống Muller (có cơ quan sinh dục ngoài nam bình thường nhưng vẫn có các ống Muller).

-          Lỗ đái lệch thấp: nguyên nhân do di truyền, các tế bào Leydig kém hiệu quả, đề kháng ở tế bào đích, bất thường của thụ thể androgen,…

-          Dương vật bé: nguyên nhân do thiểu năng testosteron của thai nhi, thiếu men 5α reductase, khuyết tật tại thụ thể androgen.

-          Một số khuyết tật rất hiếm: không có dương vật,…

4. Phân tuyến.

4.1. Tuyến xã và tuyến huyện.

Chẩn đoán định hướng dựa trên các triệu chứng lâm sàng và tư vấn về phương hướng điều trị.

4.2. Tuyến tỉnh và tuyến trung ương.

Chẩn đoán xác định, chẩn đoán nguyên nhân và điều trị thực thụ

5. Điều trị.

5.1. Nguyên tắc.

Cần xác định thể bệnh và dựa vào nguyên nhân. Mục đích của người thầy thuốc trong điều trị các người bệnh không rõ ràng về giới tính sinh dục là chẩn đoán tình trạng bệnh lý và định hướng giới tính để nuôi dạy trẻ có cuộc sống phù hợp và tình dục thích ứng sau tuổi dậy thì.

5.2. Liệu pháp tâm lý.

Một khi giới tính đã được định hướng, cần tiếp tục củng cố giới tính đó bằng các phương pháp ngoại khoa, nội tiết và tâm lý. Việc định hướng về giới tính tốt nhất phải được thực hiện trước 2 tuổi (là tuổi bắt đầu phát triển trí tuệ).

5.3. Điều trị nội khoa.

Cần xác định rõ nguyên nhân trước khi quyết định điều trị. Ví dụ:

-          Hội chứng Klinefelter: điều trị androgen thay thế, đặc biệt lúc dậy thì muộn hay khi nồng độ testosteron quá thấp

-          Hội chứng Turner: điều trị nhằm nâng chiều cao lên, thúc đẩy các đặc điểm thứ yếu sinh dục và tạo điều kiện cho người bệnh có kinh nguyệt đúng lúc. Điều trị bằng nội tiết tố tăng trưởng phối hợp với nội tiết tố nữ.

Một số trường hợp phải kết hợp với phẫu thuật.

5.4. Điều trị ngoại khoa.

Mục đích của điều trị ngoại khoa là trả lại đúng giới tính bằng tạo hình. Các phẫu thuật tạo hình nên tiến hành trước 6 đến 12 tháng tuổi. Âm vật có thể tạo hình sớm nhưng âm đạo có thể đợi đến tuổi thanh niên.

Tinh hoàn có loạn sản ở người bệnh có nhiễm sắc thể Y cần được loại bỏ sớm đề phòng ung thư tinh hoàn.

Ở những người bệnh có kháng androgen hoàn toàn, các tinh hoàn có thể giữ lại cho đến lúc thanh niên để tạo nguồn estrogen nếu như các tinh hoàn không nằm ở môi lớn. Lúc đó, có thể cắt bỏ tinh hoàn và tiếp tục sử dụng nội tiết tố thay thế vào tuổi dậy thì.

Sự khẳng định giới tính chủ yếu dựa vào sự định hướng giới tính để nuôi dạy trẻ, cách thức phẫu thuật và sự củng cố về tâm lý thời niên thiếu kết hợp với các biện pháp tăng cường nội tiết tố vào lúc dậy thì.

 


(Nguồn: Hướng dẫn QG về các dịch vụ CSSKSS năm 2009)


Tin tức khác