Nam học

TÌNH DỤC ĐỒNG GIỚI

8765-01-31 14:52:59

1. Đại cương.

1.1. Tình dục đồng giới (TDĐG) (homosexuality)

TDĐG là tình trạng một người có xu hướng và sở thích quan hệ tình dục với người cùng giới. Ở nam giới gọi là đồng giới nam, ở nữ giới gọi là đồng giới nữ.

1.2. Tính dục người được cấu thành từ bốn yếu tố.

Giới sinh học (thể nhiễm sắc XY, ngoại hình, hormon), bản sắc giới (sự tự ý thức về bản thân mình thuộc vào giới nào), vai trò xã hội của giới (đó là các hành vi, thái độ cư xử, thái độ ứng xử theo kiểu của nam hay của nữ) và xu hướng tình dục.

1.3. Xu hướng tình dục là sự hấp dẫn bền vững về mặt tình cảm và tình dục với một người thuộc giới nào đó.

Có bốn xu hướng tình dục:

-          Xu hướng tình dục khác giới (heterosexuality): có ham muốn và sinh hoạt tình dục với người khác giới như bình thường.

-          Xu hướng tình dục đồng giới (homosexuality): chỉ ham muốn và quan hệ tình dục với người cùng giới.

-          Xu hướng tình dục lưỡng giới (bisexuality): có ham muốn và thích quan hệ tình dục với cả hai giới.

-          Không có xu hướng tình dục với bất cứ giới nào (asexuality): không ham muốn quan hệ tình dục với bất cứ giới nào.

Quan điểm hiện nay cho rằng xu hướng tình dục được hình thành ở một cá thể ngay từ rất sớm do tác động qua lại của rất nhiều yếu tố sinh học, tâm lý và xã hội.

2 Nguyên nhân tình dục đồng giới.

Có bốn nguyên nhân.

2.1. Lý thuyết phân tâm học của Freud.

-          Theo Freud, bình thường thời kỳ phát triển tính dục ở cả trẻ trai và trẻ gái đều tồn tại một phức hợp Ơ đíp. Chính nhờ phức hợp này mà trẻ trai hình thành nên nhân cách của một người đàn ông còn ở trẻ gái sẽ hình thành nên nhân cách của một người phụ nữ.

-          Hiện tượng đồng giới xảy ra khi xuất hiện mặc cảm Ơ đíp. Trẻ trai, do mặc cảm và quá lo sợ vì đã yêu mẹ một cách dục tính nên đã quay lại yêu người đồng giới, còn trẻ gái thì ngược lại do không thể yêu cha một cách dục tính nên đã quay lại yêu người đồng giới với mình.

2.2 Lý thuyết về di truyền học.

Qua nhiều nghiên cứu trên các cặp sinh đôi cùng trứng và khác trứng, các nhà di truyền cho rằng gen đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành xu hướng tình dục đồng giới nhưng đó không phải là yếu tố duy nhất mà còn có tác động của các yếu tố môi trường.

2.3 Rối loạn nội tiết tố.

Ở nam giới nội tiết tố nữ tăng cao, ngược lại nội tiết tố nam giới lại giảm thấp cho nên tính tình ẻo lả và sở thích về tình dục thích đàn ông. Ngược lại, ở nữ giới nội tiết tố nam tăng cao, nội tiết tố nữ thấp cho nên hình thể bên ngoài giống đàn ông, tính nết giống đàn ông và sở thích tình dục thích phụ nữ.

2.4 Tập quán sinh hoạt.

Sống trong một thời gian quá dài với tập thể những người đồng giới cho nên đã giải quyết sinh hoạt tình dục với người đồng giới thành thói quen và đã trở thành một phản xạ có điều kiện.

3. Chẩn đoán.

3.1 Hỏi bệnh.

Những điều kiện sinh hoạt trong gia đình từ nhỏ và hoàn cảnh sống hiện tại để chẩn đoán về khuynh hướng phát sinh bệnh.

3.2 Khám thực thể.

-          Tìm các dị tật bẩm sinh trên đường sinh dục.

-          Khám tìm các thương tổn do tình dục đồng giới gây nên: loét, viêm...

3.3 Cận lâm sàng.

-          Định lượng 5 yếu tố hormon: LH, FSH, prolactin, estradiol và testosteron.

-          Xét nghiệm nhiễm sắc đồ.

-          Xét nghiệm HIV vì những người tình dục đồng giới có nguy cơ cao mắc bệnh này (có thể sinh hoạt tình dục qua đường hậu môn).

4. Phân tuyến tư vấn và điều trị.

4.1. Tuyến xã và tuyến huyện.

-          Tư vấn giúp đỡ người tình dục đồng giới về tâm lý.

-          Vận động cộng đồng đừng xa lánh kỳ thị người tình dục đồng giới.

4.2. Tuyến tỉnh và tuyến ương.

Khám lâm sàng và cận lâm sàng để tìm nguyên nhân và điều trị.

5. Điều trị.

-          Nếu có rối loạn nội tiết tố thì phải bồi phụ để thăng bằng bình thường của từng giới.

-          Điều trị tâm lý, thuyết phục người bệnh dùng lý trí để vượt qua giai đoạn này.

-          Tạo điều kiện thay đổi môi trường sống.

 

(Nguồn: Hướng dẫn QG về các dịch vụ CSSKSS năm 2009)

Tin tức khác