Nhiễm khuẩn đường sinh sản

HỘI CHỨNG LOÉT SINH DỤC (1)

9547-08-28 14:52:59

 

Tuyến áp dụng.

Tất cả các tuyến.

 

Người thực hiện.

 

Bác sĩ, y sĩ, nữ hộ sinh được đào tạo về nhiễm khuẩn đường sinh sản.

 

Hội chứng loét sinh dục dùng cho quản lý bệnh ở cả nam và nữ.

Hội chứng loét sinh dục là tình trạng có các vết loét ở vùng sinh dục, hậu môn gây nên bởi các tác nhân nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục.

Mô hình bệnh loét sinh dục thay đổi theo các khu vực khác nhau trên thế giới trong đó herpes sinh dục, giang mai và hạ cam là những bệnh hay gây ra loét.

 

Tác nhân gây loét sinh dục thường gặp: 

 

+        Xoắn khuẩn giang mai gây bệnh giang mai.

+        Trực khuẩn hạ cam gây bệnh hạ cam.

+        Virus herpes (Herpes Simplex Virus-HSV) có 2 loại HSV-1 và HSV-2, nhưng herpes sinh dục chủ yếu do HSV-2 gây ra.

 

1. Triệu chứng lâm sàng.

-          Có một hay nhiều vết  loét ở vùng sinh dục - hậu môn, môi, lưỡi, họng… có thể đau hoặc không đau.

-          Hạch to, hạch bẹn một bên hoặc hai bên di động hoặc không, đau hoặc không đau, mưng mủ rồi vỡ gây loét hoặc không.

-          Toàn trạng: bình thường hoặc có sốt nhẹ, mệt mỏi.

2. Khai thác tiền sử và bệnh sử.

 

Xem “Hướng dẫn chung”.

 

3. Khám lâm sàng.

-          Khám bộ phận sinh dục: xem “Hướng dẫn chung” (phần khám), ngoài ra lưu ý thêm:

-          Khám (các) vết loét:

+    Số lượng, vị trí.

+    Kích thước, hình dạng.

+    Đặc điểm: cứng, mềm; đáy sạch hoặc có mủ; bờ tròn đều hay nham nhở, đau hay không đau, bề mặt vết loét phẳng hay gồ ghề, có hay tái phát không.

-          Khám hạch: to hay nhỏ, cố định hay di động, một bên hay hai bên, đau hay không đau, có sưng đỏ không, có mưng mủ không, có vỡ mủ không.

-          Khám tìm các thương tổn trên da: sẩn, sẩn mủ, đào ban, cần khám kỹ lòng bàn tay, bàn chân tìm tổn thương giang mai.

-          Khám niêm mạc vùng hậu môn, miệng, họng, mũi tìm các thương tổn ở niêm mạc và bán niêm mạc của bệnh giang mai, herpes.

-          Các triệu chứng khác: rụng tóc, đau khớp, mệt mỏi.

4. Xét nghiệm hỗ trợ.

            Phản ứng huyết thanh chẩn đoán giang mai (RPR, VDRL, TPHA)

5. Chẩn đoán.

-          Vết loét do giang mai (hay săng giang mai thời kỳ I): là vết trợt nông, hình tròn hoặc bầu dục, ranh giới rõ ràng, không có bờ, đáy phẳng, thâm nhiễm cứng, không ngứa, không đau, không điều trị cũng sẽ tự khỏi sau 6 - 8 tuần, thường có một vết. Kèm theo viêm hạch vùng lân cận, thường là hạch bẹn một bên, di động, không đau, không mưng mủ.

-          Vết loét do hạ cam: thường nhiều vết loét do tự lây nhiễm (kissing ulcers). Vết loét có đáy lởm chởm, nhiều mủ, bờ nham nhở, rất đau, hạch bẹn to một bên. Sau một vài tuần hạch vỡ mủ, tạo thành ổ áp xe hoặc lỗ dò.

-          Vết loét do herpes: thường bắt đầu bằng đám mụn nước nhỏ như hạt tấm, hạt đậu xanh, cụm lại thành đám như chùm nho, sau đó dập vỡ tạo thành các vết trợt nông, mềm, bờ có nhiều cung kèm theo cảm giác rát hoặc ngứa, vết trợt tự khỏi, nhưng rất hay tái phát. Có thể sưng hạch một bên hoặc hai bên bẹn, đau, không làm mủ.

-          Nếu có vết loét, nhưng không phải giang mai, hạ cam hoặc herpes thì chuyển tuyến trên để chẩn đoán.

Chú ý:

+        Các vết loét có thể không điển hình như mô tả trên đây.

+        Hiện nay ở nhiều khu vực trên thế giới, herpes sinh dục là căn nguyên hay gặp nhất gây vết loét sinh dục. Ở những nơi có nhiều người nhiễm HIV, tỉ lệ loét sinh dục do herpes dường như ngày càng tăng lên.

+        Các vết loét do herpes (và các loét do NKQĐTD nói chung) ở những người bệnh HIV(+) có thể không điển hình và diễn biến dai dẳng.


(còn nữa)